Tổng quan Kinh tế xã hội
I. Dân cư:
Theo số liệu tổng điều tra dân số ngày 01/4/2009, dân số tỉnh Đắk Lắk là 1.728.380 người. Trong đó, dân số đô thị chiếm 22,5%, còn lại chủ yếu là dân số nông thôn chiếm 77,5%. Cộng đồng dân cư Đắk Lắk gồm 44 dân tộc. Trong đó, người Kinh chiếm trên 70%; các dân tộc thiểu số như Ê Đê, M'nông, Thái, Tày, Nùng,... chiếm gần 30% dân số toàn tỉnh.
Mật độ dân số trung bình toàn tỉnh là 132 người/km2, nhưng phân bố không đều trên địa bàn các huyện, tập trung chủ yếu ở thành phố Buôn Ma Thuột, thị trấn huyện lỵ, ven các trục quốc lộ 14, 26, 27 chạy qua như Krông Búk, Krông Pắk, Ea Kar, Krông Ana. Các huyện có mật độ dân số thấp chủ yếu là các huyện đặc biệt khó khăn như Ea Súp, Buôn Đôn, Lắk, Krông Bông, M’Drắk, Ea Hleo v.v… Các dân tộc thiểu số sinh sống ở 125/170 xã trên địa bàn tỉnh, nhưng phần lớn tập trung ở các xã vùng cao, vùng xa. Ngoài các dân tộc thiểu số tại chỗ còn có số đông khác dân di cư từ các tỉnh phía Bắc và miền Trung đến Đắk Lắk sinh cơ lập nghiệp.
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên trung bình hàng năm giảm từ 24,4% năm 2000 xuống còn 14,2% vào năm 2008. Trong những năm gần đây, dân số của Đắk Lắk có biến động do tăng cơ học, chủ yếu là di dân tự do, điều này đã gây nên sức ép lớn cho tỉnh về giải quyết đất ở, đất sản xuất và các vấn đề đời sống xã hội, an ninh trật tự và môi trường sinh thái.
Đắk Lắk là tỉnh có nhiều dân tộc cùng chung sống, mỗi dân tộc có những nét đẹp văn hoá riêng. Đặc biệt là văn hoá truyền thống của các dân tộc Ê Đê, M'Nông, Gia Rai, v.v… với những lễ hội cồng chiêng, đâm trâu, đua voi mùa xuân; kiến trúc nhà sàn, nhà rông; các nhạc cụ lâu đời nổi tiếng như các bộ cồng chiêng, đàn đá, đàn T'rưng; các bản trường ca Tây Nguyên... là những sản phẩm văn hoá vật thể và phi vật thể quý giá, trong đó Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đã được tổ chức UNESCO công nhận là kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Tất cả các truyền thống văn hóa tốt đẹp của các dân tộc tạo nên sự đa dạng, phong phú về văn hóa của Đắk Lắk.
Dân tộc Ê Đê thuộc ngữ hệ Malayô - Pôlinêdiêng, địa bàn cư trú chủ yếu là các huyện phía Bắc và phía Nam: từ Ea Hleo, Buôn Hồ xuống M’Drak và kéo dài lên Buôn Ma Thuột.
Dân tộc M'nông thuộc ngữ hệ Môn-Khơme, địa bàn cư trú chủ yếu là các huyện phía Nam và dọc biên giới Tây Nam.
II. Hành chính:
Tỉnh Đắk Lắk bao gồm thành phố Buôn Ma Thuột, thị xã Buôn Hồ và 13 huyện; trong đó có 180 xã, phường, thị trấn.
1. Thành phố Buôn Ma Thuột: 13 phường và 8 xã
2. Thị xã Buôn Hồ:
3. Huyện Ea H’leo: 1 thị trấn và 11 xã
4. Huyện Ea Súp: 1 thị trấn và 9 xã
5. Huyện Buôn Đôn: 7 xã
6. Huyện Cư M’gar: 2 thị trấn và 15 xã
7. Huyện Krông Búk: 1 thị trấn và 14 xã
8. Huyện Ea Kar: 2 thị trấn và 14 xã
9. Huyện M’Đrắk: 1 thị trấn và 12 xã
10. Huyện Krông Bông: 1 thị trấn và 13 xã
11. Huyện Krông Pắc: 1 thị trấn và 15 xã
12. Huyện Krông A Na: 1 thị trấn và 7 xã
13. Huyện Lăk: 1 thị trấn và 10 xã
14. Huyện Krông Năng: 1 thị trấn và 11 xã
15. Huyện Cư Kuin: 8 xã
* Các cơ quan hành chính:
1. Uỷ ban nhân dân
- Ủy ban nhân dân tỉnh: 09 Lê Duẩn - ĐT: (050) 3851206 - 3856128
- Ủy ban nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột: 01 Lý Nam Đế - ĐT: (0500) 3953522
2. Các Sở, Ban, Ngành
- Sở thông tin và Truyền thông: 15 Nơ Trang Lơng - ĐT: (0500) 3860010
- Sở Kế hoạch và Đầu tư: 17 Lê Duẩn - ĐT: (0500) 3851462
- Sở Công thương: 09 Nguyễn Tất Thành- ĐT: (0500) 3950993
- Sở Tài nguyên và Môi trường: 46 Phan Bội Châu - ĐT: (0500) 3852477
- Sở Giao thông Vận tải: 7 Đinh Tiên Hoàng - ĐT: (0500) 3854356
- Sở Văn hóa, Thể thao và Du Lịch: 17 Phan Bội Châu - ĐT: (0500) 3852404
- Sở Tư pháp: đường Trường Chinh - ĐT: (0500) 3955726
- Sở Xây dựng: 15 Hùng Vương - ĐT: (0500) 3856168 - 3851295
- Sở Nội vụ: 180 Nguyễn Du - ĐT: (0500) 3855542 - 3852353
- Sở Tài chính: 07 Nguyễn Tất Thành - ĐT: (0500) 3852446 - 3852377
- Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: 47 Nguyễn Tất Thành - ĐT: (0500) 3956752
- Sở Công an Đắk Lắk: 58 Nguyễn Tất Thành - ĐT: (0500) 3852537
+ Phòng Cảnh sát Điều tra: ĐT: (0500) 3853600
+ Phòng Cảnh sát Bảo vệ: ĐT: (0500) 3812216
+ Phòng Xuất nhập cảnh: ĐT: (0500) 3853421
III. Giáo dục – Đào tạo:
Ngành giáo dục đào tạo được quan tâm đầu tư thích đáng và đã đạt được nhiều thành tựu, góp phần nâng cao trình độ dân trí. Năm 2000 Đắk Lắk đã được Bộ Giáo dục - Đào tạo công nhận tỉnh đã hoàn thành chương trình quốc gia xoá mù chữ và phổ cập tiểu học.
Năm học 2008 - 2009, toàn tỉnh có 656 trường phổ thông với 12.856 lớp học, 20.261 giáo viên và 420.751 học sinh.
Tỉnh hiện có trường Đại học Tây Nguyên là trường đại học lớn nhất của Tây Nguyên, 01 trường Cao đẳng Sư phạm, 03 trường trung học chuyên nghiệp và 02 trường đào tạo công nhân kỹ thuật, trung tâm giáo dục thường xuyên tại tất cả các huyện, thành phố và hệ thống các trung tâm đào tạo ngoại ngữ, tin học trên toàn tỉnh.
Với hệ thống các trường đào tạo hiện có, trong những năm qua đã đào tạo, bồi dưỡng và cơ bản cung cấp đủ đội ngũ cán bộ, giáo viên phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Các viện, trường trung ương:
* Trường Đại học Tây Nguyên:
Trường có 5 khoa: Dự bị, Sư phạm, Nông lâm, Kinh tế và khoa Y; 3 trung tâm: Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Tây Nguyên, Trung tâm Công nghệ Sinh học, Trung tâm nghiên cứu lâm sàng và sức khoẻ cộng đồng và 2 đơn vị phục vụ: Trung tâm Khảo thí và Trung tâm thông tin - Thư viện. Lực lượng cán bộ, giảng viên 390 người (giảng viên là 277 người) trong đó có 30 tiến sỹ, 91 thạc sỹ, 48 giảng viên chính. Hiện có khoảng 5.000 sinh viên theo học trong các khoa.
* Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên
Được thành lập theo Quyết định 930/1977/QĐ-TTg, Với chức năng chính là nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ về nông lâm nghiệp, thuỷ lợi của vùng Tây Nguyên; Tham gia đào tạo, tư vấn, hợp tác quốc tế về các vấn đề liên quan. Với tổng số nhân viên là 268 người; trong đó 6 tiến sĩ, 10 thạc sĩ.
* Viện Vệ sinh Dịch tễ Tây Nguyên
Được thành lập năm 1977 với lĩnh vực hoạt động là khoa học y dược. Tổng số nhân viên là 89 người trong đó 54 người có trình độ cao đẳng trở lên.
Một số kết quả đạt được trong nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật:
- Về Khoa học công nghệ: Đã tập trung nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong nông lâm nghiệp, công nghệ sau thu hoạch, chế biến đối với một số loại nông sản, đảm bảo chất lượng xuất khẩu.
- Về khoa học xã hội và nhân văn: Đã tập trung nghiên cứu bảo tồn và phát triển các giá trị văn hoá truyền thống. Nhiều đề tài đã đi sâu nghiên cứu về bản sắc văn hoá các dân tộc bản địa. Tìm hiểu về luật tục, chữ viết, nghi lễ, lễ hội, hoa văn truyền thống, nhằm khôi phục và phát huy những giá trị văn hoá của các dân tộc, nâng cao sự hưởng thụ văn hoá trong cộng đồng.
Về điều tra cơ bản:
Đắk Lắk có hàng trăm công trình lớn nhỏ về điều tra cơ bản thuộc nhiều lĩnh vực như: Chương trình Tây Nguyên I, Chương trình Tây Nguyên II, các chương trình, đề tài, dự án điều tra về tài nguyên khoáng sản, sinh thái và xã hội của Đắk Lắk - Tây Nguyên, các dự án hợp tác quốc tế về sử dụng hợp lý tài nguyên nước, đất, đa dạng sinh học...
IV. Y tế
Tại Đắk Lắk, mạng lưới y tế từ tỉnh đến cơ sở được quan tâm củng cố, cán bộ y tế cơ sở được tăng cường.
Toàn tỉnh có 203 cơ sở y tế với 3.911 giường bệnh, 4.230 cán bộ y tế, đạt tỷ lệ 22 giường bệnh và 23,8 cán bộ y tế trên 1 vạn dân; từng bước đáp ứng nhiệm vụ bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân.
Tuyến tỉnh có 1 bệnh viện đa khoa, 1 bệnh viện chuyên khoa, 1 khu điều trị phong cùng 7 cơ sở y tế khác (da liễu, sốt rét, tâm thần...).
Tuyến huyện có 14 bệnh viện đa khoa, 14 đội vệ sinh phòng dịch sốt rét và 14 ủy ban dân số kế hoạch hóa gia đình.

  BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH

 
 

  THĂM DÒ Ý KIẾN

 
Theo bạn, đề đưa cà phê của tỉnh ta thành thương hiệu hàng đầu thế giới, chúng ta phải làm gì?
 Nâng cao chất lượng
 Tăng cường quảng bá
 Tập trung xuất khẩu
 Phát triển nội địa